SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KEO NÓNG CHẢY EVA VÀ KEO NHẠY ÁP LỰC | HOT MELT ADHESIVE | 熱熔膠
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KEO NÓNG CHẢY EVA VÀ KEO NHẠY ÁP LỰC
Sự khác biệt giữa keo nóng
chảy EVA và keo nhạy áp lực:
1. Keo
nóng chảy là một loại keo nhiệt dẻo, có đặc điểm là được tráng ở trạng thái
nóng chảy và được làm lạnh thành trạng thái rắn.
Nhựa
đường mà chúng ta quen thuộc hơn cũng là một loại chất kết dính nóng chảy. Hiện
nay, nhựa EVA (đồng trùng hợp ethylene-vinyl axetat) được sử dụng rộng rãi nhất
trong ngành chế biến gỗ.
Keo
nóng chảy bao gồm các thành phần sau:
Nhựa
EVA là thành phần chính của chất kết dính nóng chảy và là loại nhựa cơ bản
nhất.
Các
parafin ankan, parafin vi tinh thể,... được sử dụng phổ biến nhất được sử dụng
để giảm độ nhớt nóng chảy, cải thiện tính lưu động của chất kết dính nóng chảy
và giảm giá thành.
Để cải
thiện tính linh hoạt và giảm độ giòn của chất kết dính nóng chảy, người ta thường
sử dụng các chất hóa dẻo, chẳng hạn như dibutyl phthalate,…
Chẳng
hạn như nhựa thông, nhựa phenolic nhiệt dẻo,… có thể làm tăng khả năng thấm ướt
và độ bám dính ban đầu của chất kết dính, được gọi là chất kết dính.
Chất
độn có thể cải thiện khả năng chống lạnh của keo nóng chảy, ngăn chặn sự xâm nhập
quá mức của keo, giảm co ngót trong quá trình đóng rắn và giảm chi phí, thường
được sử dụng là bari sulfat, đất sét, canxi cacbonat, bột amiăng,…
2,4,6-di-tert-butyl-p-cresol
- Những chất chống oxy hóa thường được sử dụng này có thể ngăn chất kết dính khỏi
quá trình oxy hóa hoặc phân hủy do nhiệt.
Các
chất điều chỉnh khác: khi một loại nhựa cơ bản không thể đáp ứng các yêu cầu, một
số polyme phân tử thấp hoặc các chất phụ gia khác có thể được thêm vào.
Keo
nóng chảy lý tưởng cho các hoạt động cơ giới hóa và liên tục vì đặc tính đóng rắn
nhanh của chúng. Trong ngành công nghiệp chế biến gỗ, nó chủ yếu được sử dụng
để dán cạnh đồ nội thất bảng điều khiển và ghép veneer. Tuy nhiên, nhược
điểm của nó là khả năng chịu nhiệt kém, sản phẩm được dán keo không nên phơi
ngoài trời nắng lâu, nhiệt độ sử dụng không được vượt quá 120°C, nếu không độ bền
dán sẽ giảm đi rất nhiều do làm mềm lớp keo. Keo nóng chảy kết dính rất tốt
các vật liệu không xốp và có thể kết dính nhiều loại vật liệu nên được ứng dụng
rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như đóng gói, đóng sách, thuộc
da. Vì không có dung môi nên nó không gây ô nhiễm không khí và vô hại đối
với cơ thể con người.
2. Chất
kết dính nhạy áp lực: Vì rất nhạy cảm với áp lực nên có thể dán ở nhiệt độ
phòng bằng áp lực ngón tay. Đó là, nó được xử lý bằng cách áp dụng chất kết
dính nhạy cảm với áp suất lên bề mặt, còn được gọi là băng nhạy cảm với áp suất. Chẳng
hạn như thạch cao và băng dính y tế, băng cách điện và băng trong suốt,… có thể
được dán ở nhiệt độ phòng. Vật liệu cơ bản thường là giấy, vải, nhựa hoặc
cao su.
Chất
kết dính nhạy cảm với áp suất thường bao gồm nhiều thành phần, thành phần chính
là polyme (thành phần chính của chất kết dính), nhựa kết dính, chất chống lão
hóa, chất lưu hóa, chất làm dẻo, chất độn và chất điều chỉnh độ nhớt. Do
đó, lực liên phân tử (tức là lực dính) của chất kết dính nhạy cảm với áp suất sẽ
lớn hơn lực liên phân tử (tức là lực bám dính) giữa chất kết dính và chất kết
dính. Bằng cách này, chất kết dính nhạy áp lực không thể để lại dấu vết
trên bề mặt của chất kết dính khi tháo băng ra và nó cũng có độ bám dính tốt với
các vật liệu khác nhau.
Nhược
điểm của chất kết dính nhạy cảm với áp suất là một số khả năng chống lạnh và độ
bền kém. Tuy nhiên, khả năng chống nước, độ dẻo dai, khả năng chống va đập
và độ bền của vỏ đều tốt, vì vậy nó chủ yếu được sử dụng để ghép các tấm ván lạng
trong ngành gỗ, có thể nhận ra sự tích hợp của ván lạng và cũng có thể được sử
dụng trong quá trình xử lý thứ cấp bảng và đồ nội thất.












Nhận xét
Đăng nhận xét